Welcome to our website

Trung tâm nghiên cứu phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai là đơn vị nghiên cứu về cơ sở khoa học, thực hiện các nhiệm vụ và dự án phục vụ mục đích phòng, tránh và giảm nhẹ thiên tai, đặc biệt là các loại hình thiên tai như lũ lụt, lũ quét, nước dâng do bão, hạn hán, xâm nhập mặn, sạt lở đất. Xây dựng pương án ứng phó trong tình huống xả lũ khẩn cấp hay vỡ đập của hồ chứa

Pages

Giảm nhẹ biến đổi khí hậu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Giảm nhẹ biến đổi khí hậu là sự can thiệp của con người nhằm giảm nhẹ các nguồn phát thải khí nhà kính hoặc tăng cường các bể chứa nhà kính (UNFCCC.)

Các hoạt động nhằm giảm nhẹ biến đổi khí hậu do con người gây ra bằng cách giảm bớt lượng phát thải khí nhà kính - nguyên nhân gây nên sự nóng lên toàn cầu, được xem như là “giảm nhẹ biến đổi khí hậu”.

Ví dụ về giảm nhẹ biến đổi khí hậu bao gồm sử dụng xăng dầu có nguồn gốc tự nhiên một cách hiệu quả hơn trong các hoạt động công nghiêp hoặc phát điện, hay chuyển sang sử dụng năng lượng mặt trời hoặc năng lượng gió, cải thiện lớp cách nhiệt trong các công trình xây dựng và mở rộng diện tích rừng và các bể chứa CO2 khác để loại bỏ một lượng lớn cácbonic trong khí quyển.

Thích ứng với biến đổi khí hậu (TƯBĐKH)

Là sự điều chỉnh trong các hệ thống tự nhiên hoặc con người nhằm ứng phó với những biến đổi thực tế hoặc dự kiến của khí hậu hoặc các ảnh hưởng của chúng, để giảm bớt tác hại hoặc khai thác những cơ hội có ích do chúng mang lại.

Thích ứng nhằm chỉ hoạt động ứng phó với các hậu quả của biến đổi khí hậu, mà chủ yếu là giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương đối với các ảnh hưởng của biến đổi khí hậu (Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng thích ứng cũng có thể đề cập đến việc khai thác bất kỳ cơ hội lợi ích mà biến đổi khí hậu có thể mang lại). Có nhiều định nghĩa khác nhau về thích ứng với biến đổi khí hậu. Nhưng có lẽ định nghĩa của Chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc (UNFCCC) là đơn giản nhất: “Là các bước thực tế để bảo vệ các quốc gia và các cộng đồng có thể bị phá vỡ hoặc bị thiệt hại do biến đổi khí hậu (UNFCCC)”.

Biến đổi khí hậu (BĐKH)

Biến đổi khí hậu là sự thay đổi trạng thái khí hậu có thể được nhận biết bằng các thay đổi giá trị trung bình và/hoặc sự biến thiên các đặc tính của nó, và duy trì trong các thời đoạn kéo dài, theo tiêu chuẩn thường là hàng thập kỷ hoặc dài hơn (UN IPCC, 2007).

Biến đổi khí hậu nhằm chỉ những thay đổi có xu thế dài hạn so với trạng thái khí hậu trung bình. Sự thay đổi các hình thế thời tiết hiện tại biểu thị mối liên hệ chặt chẽ với các ảnh hưởng do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển (xem Chương 3).

Cần phân biệt sự biến đổi khí hậu trong thời đoạn dài với sự biến động khí hậu trong thời đoạn ngắn. Biến động khí hậu nói chung nhằm chỉ sự thay đổi tự nhiên của các hình thế thời tiết, ví dụ như các hình thế mưa. Đôi khi sự thay đổi mạnh mẽ của các giá trị trung bình có thể duy trì trong một vài năm, ví dụ như khi xảy ra hạn hán kéo dài. Đây cũng có thể là một phần của chu trình biến đổi tương tự như những chu trình tạo ra các hiện tượng El Nino. Những dạng thay đổi này là không bình thường và được mô tả là “biến đổi khí hậu”.

Có hai loại hành động để đáp ứng với biến đổi khí hậu: một là để giảm tác động của biến đổi khí hậu đối với xã hội (thích ứng), và hai là giảm tốc độ biến đổi khí hậu xảy ra (giảm nhẹ). Chương trình đào tạo này chủ yếu liên quan đến loại hoạt động đầu tiên.

Khí hậu

Khí hậu là thuật ngữ mô tả các trạng thái thời tiết đã từng xảy ra tại một nơi nào đó trong một khoảng thời gian nhất định.

Mô tả khí hậu nhằm chỉ giá trị trung bình và sự biến thiên của các trạng thái đo đạc được như nhiệt độ, mưa và tốc độ gió. Theo quy định của Tổ chức Khí tượng Thế giới (WMO), thời đoạn chuẩn để xác định được giá trị trung bình của các biến thiên trên là 30 năm.

Quản lý rủi ro thiên tai (QLRRTT)

Là quá trình mang tính hệ thống nhằm áp dụng các quy định hiện hành, huy động cơ quan, tổ chức, cá nhân và kỹ năng cần thiết để thực hiện các chiến lược, chính sách và nâng cao khả năng ứng phó, giảm thiểu tác động bất lợi của hiểm họa và thiên tai.

Đây là một thuật ngữ mở rộng đối với thuật ngữ chung “quản lý rủi ro” để chỉ một vấn đề cụ thể của các rủi ro thiên tai. QLRRTT đề cập đến các hoạt động thực hiện nhằm GNRRTT. Trước đây, mục tiêu chính của QLRRTT là nhằm phòng tránh, giảm nhẹ hay chuyển những ảnh hưởng có hại của các hiểm họa thông qua những hoạt động tổng hợp và các biện pháp phòng tránh, giảm thiểu, phòng ngừa, ứng phó và khắc phục sau thiên tai (xem Chương 4). Tuy nhiên, rủi ro thiên tai được hiểu như một sản phẩm của bản chất vật lý của hiểm họa, các điều kiện xã hội hình thành nên tình trạng dễ bị tổn thương, sự quan tâm nhiều hơn đến quy hoạch, việc quản lý thiên tai theo hướng nâng cao năng lực để giảm nhẹ mối đe dọa của thiên tai.

Do đó, các ví dụ của về các hành động QLRRTT ở cấp cộng đồng do đó có thể bao gồm: tổ chức các nhóm để giám sát các mối đe dọa và cảnh báo người dân sớm, đào tạo những người lãnh đạo về việc chuẩn bị ứng phó hiểm họa xảy ra, thực hiện các dự án cộng đồng như xây dựng đê điều và các biện pháp kiểm soát lũ lụt, phát triển các cơ hội sinh kế thay thế làm giảm tác động của thiên tai đối với thu nhập hộ gia đình, và thực hiện các dự án nâng cao sinh kế hoặc khuyến khích các mạng xã hội có liên quan đến những nhóm dân tộc thiểu số để giảm các nguyên nhân cơ bản của tình trạng dễ bị tổn thương.

Giảm nhẹ rủi ro thiên tai (GNRRTT)

Giảm nhẹ rủi ro thiên tai là giảm thiểu hoặc hạn chế các tác động có hại của hiểm họa tự nhiên và thiên tai.

Khái niệm và kinh nghiệm thực tế về GNRRTT thông qua những nỗ lực mang tính hệ thống nhằm phân tích và quản lý những nhân tố gây ra thiên tai bằng việc Giảm nhẹ nguy cơ dẫn tới những thiên tai, Giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương đối với người, tài sản, quản lý đất và môi trường một cách khôn ngoan, và cải thiện việc phòng ngừa đối với những sự kiện xấu.

Khái niệm GNRRTT là một tiếp cận toàn diện để ứng phó với rủi ro thiên tai và đã trở thành nguyên tắc hướng dẫn cho hành động của quốc tế về thiên tai.

GNRRTT được xây dựng và mở rộng từ ý tưởng của QLRRTT để nhận biết các tình trạng dễ bị tổn thương chính góp phần vào rủi ro như thế nào. GNRRTT do vậy bao gồm việc giảm nhẹ mức độ nguy hiểm, nâng cao năng lực quản lý các tác động của hiểm họa, quan tâm hơn tới giảm nhẹ tình trạng dễ bị tổn thương đối với người và tài sản, và quản lý tốt hơn về đất đai và môi trường.

Rủi ro Thiên tai


Rủi ro thiên tai là thiệt hại do thiên tai có thể gây ra về người, tài sản, môi trường sống, các hoạt động kinh tế, xã hội tại một số cộng đồng trong một khoảng thời gian nhất định.

Rủi ro thiên tai nhằm chỉ khả năng xảy ra các thiên tai hơn là mô tả các sự kiện thiên tai thực tế. Định nghĩa về rủi ro thiên tai phản ánh khái niệm về thiên tai như là kết quả của những điều kiện rủi ro hiện tại tiếp diễn. Rủi ro thiên tai bao gồm những loại hình thiệt hại tiềm tàng khác nhau thường rất khó định lượng. Tuy nhiên, với kiến thức về những hiểm họa hiện có và những mô hình phát triển dân số và kinh tế xã hội, các rủi ro thiên tai có thể được đánh giá và lập bản đồ (ít nhất là theo nghĩa rộng).

Vấn đề quan trọng ở đây là cần phải hiểu rằng rủi ro thiên tai không chỉ liên quan tới các mối đe dọa về vật chất của các hiểm họa. Một hiểm họa có thể chỉ dẫn tới một thiên tai nếu một cá nhân và các hệ thống xã hội đang ở tình trạng dễ bị tổn thương dưới các tác động của hiểm họa đó. Do đó việc xem xét cả về hiểm họa và tình trạng dễ bị tổn thương là rất quan trong khi đánh giá về rủi ro thiên tai.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
DMCA.com Protection Status
Thông tin về thiên tai Việt Nam

Chia sẻ